Phần mềm quản lý bán hàng siêu thị VNUNI

Chuyên sâu về lĩnh vực bán lẻ

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tại thời điểm này, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng thời điểm năm trước. Dù vẫn ở mức cao song chỉ số tồn kho đã có những dấu hiệu tích cực khi sụt giảm dần trong 4 tháng trở lại đây. Tuy nhiên, làm thế nào để doanh nghiệp (DN) thực sự vượt qua khủng hoảng, TS Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW cho rằng, chúng ta cần thực hiện quyết liệt và đồng bộ hơn nữa các giải pháp của Chính phủ, đặc biệt trong vấn đề xử lý nợ xấu.

TS Võ Trí ThànhẢnh: TL

Lượng hàng tồn kho cao, đặc biệt trong lĩnh vực thép, xi măng, nhựa… là vấn đề lớn khiến nhiều DN lao đao. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này?

Chúng ta đều biết, nền kinh tế đang đối diện rất nhiều khó khăn. DN sản xuất đình trệ, hàng tồn kho lớn, dù mức tồn kho có giảm dần trong 4 tháng trở lại đây, tháng 6 chỉ còn 26% so với mức 34,9% của tháng 3. Nguyên nhân dẫn đến hàng tồn kho thì có nhiều. Đầu tiên phải kể đến là cách thức kinh doanh, khả năng cạnh tranh của chính DN. Song, một phần lớn nguyên nhân phụ thuộc yếu tố bên ngoài, tổng cầu thị trường giảm sút nghiêm trọng. Khả năng xoay sở gắn với tín dụng khó khăn hơn do chính sách thắt chặt tiền tệ của Nhà nước cùng nhiều vấn đề khác như nợ xấu… Để giải quyết hàng tồn kho, Chính phủ phải cắt giảm chi phí cho DN, kết hợp với nỗ lực của chính DN.

Vậy làm gì để cắt giảm chi phí? Có 3 cách Chính phủ đang áp dụng. Thứ nhất, giảm lãi suất, tiếp cận tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, giảm – miễn – giãn thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Thứ hai, tạo đầu ra cho sản phẩm. Chính phủ kích cầu tiêu dùng bằng tăng lương, giảm thuế thu nhập cá nhân, giãn thuế VAT, mở cửa cho vay tiêu dùng. Thứ ba, kích cầu đầu tư bằng việc thúc đẩy giải ngân đầu tư công theo kế hoạch, cộng với một số vốn bổ sung cho gói hỗ trợ DN. Thời gian tới, Chính phủ sẽ cố gắng cho phát triển kết cấu hạ tầng dựa vào bê tông, xây dựng đường sá bê tông sử dụng nhiều sắt thép, xi măng, đá – những ngành có chỉ số tồn kho lớn. Bên cạnh đó, hướng vào thị trường bên ngoài, gắn với xúc tiến thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, phải thấy rằng, lượng hàng tồn kho của ngành xi măng, sắt, thép cũng chính là bài học lớn về quy hoạch cho chúng ta, bởi sự phát triển ồ ạt của các ngành này gắn với sự hứng khởi về tăng trưởng, về BĐS thời gian trước đây.

Vậy với ngành bán lẻ thì sao, thưa ông?

Khó có thể có một chính sách hỗ trợ trực tiếp nào cho riêng ngành bán lẻ, bên cạnh chính sách chung cho các DN như hạ lãi suất, cải thiện môi trường kinh doanh. Bởi vậy, để giải phóng hàng tồn của DN bán lẻ sẽ phụ thuộc tổng cầu, khả năng hạ giá bán hàng của DN và bản thân hệ thống bán lẻ. Tất nhiên, DN có rất nhiều cửa để cải thiện tình hình. Đơn cử, nhiều tập đoàn, kênh bán lẻ đã dịch chuyển chuỗi cung ứng ra ngoại vi thành phố, đến nông thôn, gắn với nhu cầu của người lao động có thu nhập thấp và trung bình. Tóm lại, dưới sự hỗ trợ của Chính phủ, chúng ta cần thực hiện các giải pháp một cách quyết liệt và khẩn trương hơn chứ đừng hy vọng vào một gói hỗ trợ lớn hơn. Đồng thời, bản thân DN cần tiếp tục nỗ lực.

Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công sẽ giúp giải phóng lượng hàng tồn kho của ngành xây dựng. Tuy nhiên, dường như nó lại đi ngược lại chính sách cắt giảm đầu tư  công của Chính phủ?

Tất nhiên, 2 vấn đề trên có mâu thuẫn trong chừng mực nhất định. Năm nay, theo kế hoạch, tổng đầu tư toàn xã hội khoảng 34% GDP, trong đó, đầu tư công chiếm 35% của tổng đầu tư toàn xã hội. So với trước đây, tổng đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, tổng đầu tư công khoảng 40-45%, thì rõ ràng có sự sụt giảm. Đầu tư công phần lớn vào xây dựng cơ bản và phát triển kết cấu hạ tầng, chắc chắn nó gắn với tiêu thụ sắt, thép, xi măng. Nhưng trước đây, chúng ta chưa nhận ra sự lệch lạc ít nhiều trong quy hoạch phát triển ngành thép, xi măng… do tăng trưởng nói chung của ngành BĐS bên cạnh đầu tư công khá tốt. Tất nhiên, do đầu tư tăng, tín dụng bơm ra nhiều, kéo theo đấy, ngành VLXD cũng dễ che giấu những khiếm khuyết trong quy hoạch. Nói tóm lại, ngành VLXD phát triển gắn với ngành xây dựng nói chung của đất nước, trong đó một phần quan trọng là Nhà nước. Nhà nước giảm đầu tư, tất yếu gây ảnh hưởng ít nhiều, nhưng đây không phải điều duy nhất, mà chúng ta phải thừa nhận những sai lầm trong quy hoạch phát triển.

Việc “bơm” tín dụng với BĐS càng khiến nợ xấu NH tăng lên?

Trong nhóm nợ xấu, nhóm 4,5 là nhóm nợ xấu nhất và có liên quan nhiều đến thị trường BĐS. Tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh cũng một phần do BĐS đóng băng. Để xử lý vấn đề này, không phải đơn giản cứu BĐS, bởi chúng ta muốn cách thức phát triển mới hiệu quả hơn thì không thể chỉ vì BĐS. Đồng thời, đây là thị trường rất lớn nên ta cũng không đủ nguồn lực để cứu. Như vậy, bơm vốn cho BĐS là vì 2 mục tiêu. Thứ nhất, vì tổng thể nền kinh tế, để nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo bình thường. Thứ hai, giảm một phần khó khăn cho thị trường BĐS. Đây là 2 vấn đề liên quan, ví dụ, nếu xử lý nợ xấu hệ thống NH, trong đó, khoản nợ xấu nhất liên quan BĐS sẽ tạo điều kiện thị trường BĐS hồi phục dần dần. Mặt khác, chúng ta có những giải pháp để phân mảng nào đấy của thị trường phục hồi, nó kéo theo sự phát triển các ngành VLXD khác. Khi đó, khả năng thanh toán, trả nợ của thị trường tốt lên, giảm chậm quá trình tích nợ xấu, có điều kiện xử lý nợ xấu tốt hơn. Và trên thực tế, Chính phủ đang thực hiện như vậy.

Theo daidoanket.vn/phanmembanhang.info

hapt On July - 11 - 2012

Leave a Reply


ĐỐI TÁC KINH DOANH



Trang chủ   Sản phẩm   Bán hàng   Giới thiệu   Liên hệ   Privacy Policy     

Công ty Cổ phần VNUNI (VNUNI Jsc.) Trụ sở: Số 17, Ngõ 14, phố Pháo Đài Láng, Q.Đống Đa, TP.Hà nội Điện thoại: (84-4) 2242 5829
  Văn phòng: Số 6, Trần Đăng Ninh kéo dài, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội Điện thoại: (84-4) 8585 4543
Copyright © 2011 VNUNI info@vnuni.net ; sales@vnuni.net ; vnuni-hcm@vnuni.net Di động: 0912 006 999